Đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản xuất sắc gắn với công nghệ chiến lược

(Chinhphu.vn) - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Quyết định 2555/QĐ-BKHCN phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (Program for Excellence in Basic Research - PEBR).

Chương trình được kỳ vọng tạo bước chuyển trong đầu tư cho nghiên cứu cơ bản theo hướng dài hạn, trọng điểm, gắn với phát triển công nghệ lõi và công nghệ chiến lược quốc gia - Ảnh minh họa
Chương trình được kỳ vọng tạo bước chuyển trong đầu tư cho nghiên cứu cơ bản theo hướng dài hạn, trọng điểm, gắn với phát triển công nghệ lõi và công nghệ chiến lược quốc gia - Ảnh minh họa

Điểm đáng chú ý của Chương trình PEBR là chuyển từ mô hình tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu đơn lẻ, ngắn hạn sang đầu tư theo các định hướng nghiên cứu trung và dài hạn từ 5-10 năm. Chương trình ưu tiên các chuỗi, cụm nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản có mục tiêu khoa học rõ ràng, gắn với phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể.

Việc đầu tư sẽ tập trung vào các vấn đề khoa học nền tảng có tiềm năng tạo đột phá, phù hợp với lợi thế và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Trong đó, các lĩnh vực ưu tiên gồm: Công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghệ bán dẫn và các lĩnh vực trọng điểm khác theo từng thời kỳ.

Chương trình cũng nhấn mạnh định hướng đầu tư tập trung, có trọng tâm, trọng điểm và chiều sâu; ưu tiên phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và các hướng nghiên cứu có tiềm năng tạo đột phá gắn với lợi thế phát triển của Việt Nam.

Theo mục tiêu tổng quát, PEBR hướng tới phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên trở thành cấu phần cốt lõi của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nâng cao năng lực nghiên cứu đạt trình độ quốc tế; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh mang tầm quốc tế và tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược trong dài hạn.

Cụ thể, đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong đó có ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực. Đến năm 2035, số lượng nhóm nghiên cứu mạnh dự kiến tăng lên khoảng 50 nhóm, trong đó có ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.

Về chất lượng công bố khoa học, đến năm 2030, tỉ lệ công bố trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 trong cơ sở dữ liệu Web of Science và hệ thống Nature Index được kỳ vọng tăng khoảng 1,5 lần; đến năm 2035 tăng khoảng 2 lần so với mức trung bình giai đoạn 2021-2025 của từng lĩnh vực khoa học tương ứng.

Đáng chú ý, Chương trình hướng tới hình thành các hướng nghiên cứu mới có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi. Theo đó, đến năm 2030 sẽ hình thành ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 3 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi; đến năm 2035 hình thành thêm ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, tối thiểu 5 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi.

Chương trình cũng đặt mục tiêu thúc đẩy chuyển tiếp từ nghiên cứu cơ bản sang phát triển công nghệ chiến lược. Phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 10% và đến năm 2035 có ít nhất 20% số nhiệm vụ thuộc các hướng nghiên cứu mới có kết quả đủ điều kiện đăng ký sáng chế quốc tế hoặc có khả năng chuyển tiếp sang nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

Bên cạnh đó, PEBR chú trọng phát triển nguồn nhân lực khoa học trình độ cao, đặc biệt là lực lượng nhà khoa học trẻ có tiềm năng dẫn dắt. Đến năm 2030, Chương trình dự kiến hỗ trợ, bồi dưỡng và kết nối ít nhất 500 tiến sĩ, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ và nhà khoa học trẻ; đến năm 2035 hỗ trợ ít nhất 1.000 nhà khoa học.

Một nội dung quan trọng khác là tăng cường hợp tác quốc tế có chiều sâu và thực chất. Đến năm 2030, Chương trình phấn đấu triển khai ít nhất 100 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế; đến năm 2035 tăng lên ít nhất 300 nhiệm vụ. Mỗi nhóm nghiên cứu sẽ có ít nhất một đối tác quốc tế chiến lược.

Theo Quyết định, việc lựa chọn, tài trợ và đánh giá nhiệm vụ sẽ được thực hiện trên cơ sở cạnh tranh, công khai, minh bạch, theo tiêu chí xuất sắc khoa học. Các nhiệm vụ sẽ được đánh giá kết hợp giữa ý kiến chuyên gia với các chỉ số khoa học chuẩn hóa quốc tế như FWCI, CNCI và các chỉ số tương đương.

Chương trình cũng áp dụng phương thức quản lý dựa trên kết quả đầu ra và tác động khoa học; thiết lập cơ chế đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ để kịp thời điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương thức triển khai. Đồng thời, khuyến khích các ý tưởng khoa học mới, có tính đột phá và chấp nhận rủi ro khoa học phù hợp với đặc thù của nghiên cứu cơ bản.

Toàn bộ Chương trình PEBR sẽ được triển khai trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả theo dõi, đánh giá trong quá trình thực hiện.

Thu Giang

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

VG

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Sẵn sàng nhập cuộc xăng sinh học

Sẵn sàng nhập cuộc xăng sinh học

VG

Việt Nam đã sẵn sàng triển khai phủ sóng xăng sinh học từ ngày 1/6, đồng thời hướng tới các mức phối trộn cao hơn như E15, E20 trong thời gian tới.

PVOIL: Hành trình đưa nhiên liệu sinh học vào cuộc sống

PVOIL: Hành trình đưa nhiên liệu sinh học vào cuộc sống

VG

Ngày 15/5/2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng khi xăng sinh học E10 được Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL), đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) triển khai kinh doanh đại trà trên phạm vi toàn quốc.

Cán bộ Cục An toàn bức xạ và hạt nhân tập huấn ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý nhà nước.

Đặt nền móng cho chương trình điện hạt nhân

VG

Việc tái khởi động chương trình điện hạt nhân gắn với bài toán về năng lực quản lý nhà nước; trong đó, từng bước hoàn thiện Cục An toàn bức xạ và hạt nhân được xem là khâu then chốt, đặt nền móng cho toàn bộ chương trình phát triển điện hạt nhân trong giai đoạn tới.

Người dân chủ động giao nộp cá ủ chua không bảo đảm vệ sinh cho chính quyền.

Vận động thay đổi cách chế biến thực phẩm

VG

Nhiều vụ ngộ độc botulinum liên tiếp xảy ra trên địa bàn Đà Nẵng từ món cá ủ chua. Lãnh đạo UBND thành phố đã kiểm tra công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm tại các xã có người bị ngộ độc để khuyên bỏ cách chế biến món ăn nhằm giảm nguy cơ ngộ độc thực phẩm trong cộng đồng.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.

Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn

VG

Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào “thời điểm vàng” để hiện thực hóa khát vọng trở thành trung tâm công nghiệp bán dẫn của cả nước và khu vực, mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu. Tuy nhiên, thành phố cần cấp bách xây dựng nguồn nhân lực bán dẫn không chỉ đủ về “lượng” mà còn phải bảo đảm về “chất”.

Học viên chương trình V-STT tham gia chế tạo và khảo sát linh kiện bán dẫn trong phòng thí nghiệm.

Gắn đào tạo với thực tiễn: Hướng đi mới cho nhân lực bán dẫn

VG

Trong bối cảnh ngành bán dẫn vươn lên thành tâm điểm của cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu, yêu cầu về nguồn nhân lực không chỉ dừng ở nền tảng học thuật mà ngày càng nhấn mạnh năng lực thực hành. Từ thực tiễn đó, các mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp đang dần định hình như một xu hướng mới trong giáo dục đại học.

Nhân lực bán dẫn: Bài học từ Đức và khoảng trống của Việt Nam

VG

Trong bối cảnh ngành công nghiệp bán dẫn đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế số toàn cầu, câu chuyện nhân lực không còn là vấn đề riêng của các quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, nơi dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực bán dẫn đang tăng nhanh, bài toán nguồn nhân lực ngày càng trở nên cấp thiết.

Hiệu trưởng Trường cao đẳng FPT Polytechnic Vũ Chí Thành cùng các sinh viên tham gia sự kiện về sản xuất chip bán dẫn

Đào tạo nhân lực bán dẫn gắn với nhu cầu thị trường

VG

Việc kết nối giữa nghiên cứu-ứng dụng-thị trường để phát triển ngành công nghiệp bán dẫn đòi hỏi một mô hình liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Theo đó, nhà trường, các viện nghiên cứu là nơi đào tạo nguồn nhân lực - yếu tố được xem là một trong những "nút thắt" lớn nhất của ngành công nghiệp bán dẫn.

Đại diện Ban tổ chức tham quan khu vực tranh tài của các thí sinh tại Vòng chung kết Hội thi Tin học trẻ thành phố Hà Nội lần thứ 31.

Robot tuần tra, phần mềm học lịch sử VR xuất hiện ở Hội thi Tin học trẻ thành phố Hà Nội

VG

Là hoạt động thường niên dành cho thanh thiếu nhi Thủ đô do Đoàn Thanh niên, Hội đồng Đội phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tổ chức, Hội thi Tin học trẻ thành phố Hà Nội đã bước sang lần tổ chức thứ 31. Năm nay, vòng chung kết Hội thi diễn ra ngày 17/5 theo hình thức tập trung với nhiều sản phẩm đầy sáng tạo.