Triển khai hệ thống tự động hóa phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Nhiều quy định mới về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ; tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ... vừa được bổ sung tại Nghị định số 100/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Triển khai hệ thống tự động hóa phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Triển khai hệ thống tự động hóa phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP ngày 14/1/2026 và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 của Chính phủ.

Bổ sung quy định về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ

Nghị định số 100/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 9a quy định về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ vào sau Điều 9 như sau:

" Điều 9a. Quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ

1. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện lập, lưu giữ Danh mục quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để sử dụng cho các mục đích quản trị nội bộ sau đây:

a) Quản lý, theo dõi tình trạng pháp lý của các quyền sở hữu trí tuệ;

b) Làm căn cứ để thực hiện định giá, xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại và các mục đích hợp pháp khác;

c) Thông tin để minh chứng nguồn lực, uy tín, tiềm năng của doanh nghiệp đối với đối tác, nhà đầu tư;

d) Xây dựng chiến lược về việc khai thác quyền sở hữu trí tuệ;

đ) Các hoạt động khác mà luật không cấm.

2. Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này được lập dưới hình thức bản giấy hoặc bản điện tử, bao gồm các thông tin cơ bản sau:

a) Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;

b) Tình trạng pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ (căn cứ phát sinh, xác lập quyền); thời hạn bảo hộ; các thời điểm phải thực hiện nghĩa vụ về phí, lệ phí (nếu có), v.v...;

c) Thông tin về tác giả, đồng tác giả;

d) Nguồn gốc hình thành (tự tạo ra, kế thừa, được tặng cho, v.v..

đ) Chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra, đăng ký, xác lập quyền;

e) Tình trạng sử dụng, khai thác (tự khai thác, chuyển quyền sử dụng, v.v...); giá trị thu được từ việc sử dụng, khai thác (nếu có).

g) Giá trị ước tính (do tổ chức, chuyên gia định giá đưa ra hoặc tự ước tính nội bộ) (nếu có).

3. Việc lập Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này không thay thế cho các nghĩa vụ ghi nhận, trình bày báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán.

4. Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện rà soát, cập nhật Danh mục quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều này hằng năm hoặc khi phát sinh thay đổi về tình trạng pháp lý, giá trị của quyền sở hữu trí tuệ.

5. Các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình triển khai các hoạt động để khuyến khích tổ chức, cá nhân có liên quan khai thác quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo quy định của pháp luật, thực hiện hỗ trợ xác định giá trị đối với các quyền sở hữu trí tuệ tạo ra từ ngân sách nhà nước, quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghệ chiến lược, công nghệ cao, công nghệ xanh và quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo dựa trên quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với chiến lược phát triển ngành, địa phương; thúc đẩy hình thành và phát triển các tổ chức trung gian hỗ trợ cho hoạt động phát triển, khai thác, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ.".

Tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Đồng thời, Nghị định số 100/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 9đ quy định về tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vào sau Điều 9d như sau:

" Điều 9đ. Tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

1. Các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, đầu tư, xây dựng và triển khai hệ thống tự động hóa quy trình, nghiệp vụ trong hoạt động kiểm soát, phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm các mục tiêu sau:

a) Phát hiện, giám sát và theo dõi tự động hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng thông qua việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ phân tích dữ liệu lớn và phân tích hành vi;

b) Xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo thẩm quyền, bao gồm việc yêu cầu gỡ bỏ nội dung xâm phạm, tạm ngừng hoặc hạn chế hoạt động của tài khoản xâm phạm và phối hợp xử lý các vụ việc có yếu tố nước ngoài thông qua các cơ chế hợp tác, kết nối quốc tế theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;

c) Phân quyền truy cập, lưu nhật ký thao tác, kiểm tra định kỳ chất lượng hệ thống để tránh sai lệch hoặc tránh bị can thiệp.

2. Các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tăng cường đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

3. Phạm vi tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm tiếp nhận, phân loại thông tin, vụ việc; đối chiếu dữ liệu quyền sở hữu trí tuệ trong cơ sở dữ liệu; cảnh báo, thống kê, báo cáo; hỗ trợ trích xuất dữ liệu phục vụ kiểm tra, xử lý và các hoạt động khác có liên quan.

4. Kết quả hoạt động tự động hóa quy trình, nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là dữ liệu hoặc khuyến nghị nghiệp vụ, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hoặc người có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ".

Quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo

Cùng với đó, Nghị định số 100/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 10a quy định quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo vào sau Điều 10 như sau:

" Điều 10a. Quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo

1. Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí do con người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra chỉ được xác lập theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ nếu con người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra các đối tượng đó.

Người có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra các đối tượng đó thì được coi là tác giả theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật Sở hữu trí tuệ.

2. Con người được coi là có đóng góp đáng kể vào việc sáng tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong trường hợp con người thực hiện toàn bộ các hoạt động sau:

a) Xác định vấn đề cần giải quyết, trong đó phải bao hàm cả ý tưởng về giải pháp, không chỉ là mô tả vấn đề chung chung;

b) Lựa chọn dữ liệu đầu vào, mục tiêu, ràng buộc, tham số từ ý tưởng sáng tạo của con người, không chỉ dựa trên dữ liệu sẵn có hoặc gợi ý tự động từ hệ thống trí tuệ nhân tạo;

c) Đánh giá, lựa chọn, tinh chỉnh, thử nghiệm (nếu có) và diễn giải kết quả do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra, trong đó việc tinh chỉnh phải làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng cốt lõi của kết quả hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra giá trị mới;

d) Quyết định kết quả cuối cùng là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí yêu cầu được bảo hộ.

3. Đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo không đáp ứng quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, người tạo ra có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đó với điều kiện không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác.

4. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.".

Điều kiện để được thẩm định nhanh đơn đăng ký sáng chế, đăng ký nhãn hiệu

Ngoài ra, Nghị định số 100/2026/NĐ-CP cũng bổ sung Điều 14a thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu vào sau Điều 14b như sau:

" Điều 14a. Thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu

1. Đơn đăng ký sáng chế được thẩm định nội dung nhanh trong thời hạn quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong trường hợp đáp ứng tất cả các điều kiện sau đây:

a) Sáng chế nêu trong đơn đăng ký thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao hoặc sáng chế được nghiên cứu và khai thác cho các tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh;

b) Sáng chế là đối tượng nêu trong đơn đăng ký đã được khai thác thương mại;

c) Đơn đăng ký sáng chế có yêu cầu công bố sớm được nộp tại thời điểm nộp đơn;

d) Đơn đăng ký sáng chế có không quá 10 điểm yêu cầu bảo hộ, trong đó có không quá 02 điểm độc lập;

đ) Đơn đăng ký sáng chế không phải là đơn tách hoặc đơn chuyển đổi;

e) Nộp phí thẩm định nội dung nhanh theo quy định.

2. Đơn đăng ký nhãn hiệu được thẩm định nội dung nhanh trong thời hạn quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong trường hợp đáp ứng tất cả các điều kiện sau đây:

a) Đơn đăng ký nhãn hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a1) Nhãn hiệu được sử dụng cho hàng hoá được sản xuất theo sáng chế thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao hoặc sáng chế được nghiên cứu và khai thác cho các tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh;

a2) Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là một trong những tài liệu hoặc điều kiện bắt buộc mà người nộp đơn phải có khi thực hiện thủ tục đăng ký hoặc xin cấp phép để được tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định pháp luật.

b) Đơn đăng ký nhãn hiệu là đơn được nộp trực tiếp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp (không phải là đơn quốc tế theo quy định tại Điều 120 của Luật Sở hữu trí tuệ);

c) Nhãn hiệu nêu trong đơn đăng ký không phải là nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu ba chiều hoặc nhãn hiệu âm thanh;

d) Trường hợp đơn đăng ký nhãn hiệu cho nhiều hàng hóa, dịch vụ thì điều kiện nêu tại điểm a trên đây phải đáp ứng đối với tất cả các hàng hóa, dịch vụ nêu trong đơn;

đ) Nộp phí thẩm định nội dung nhanh theo quy định.

3. Yêu cầu thẩm định nội dung nhanh đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu phải được làm bằng văn bản theo mẫu quy định và phải được nộp đồng thời tại thời điểm nộp đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu đó.

4. Đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh được tiếp tục xử lý theo các thời hạn quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 119 của Luật Sở hữu trí tuệ trong các trường hợp sau đây:

a) Yêu cầu thẩm định nội dung nhanh không đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều này;

b) Phát sinh tranh chấp, khiếu nại hoặc có ý kiến phản đối theo quy định tại Điều 112a của Luật Sở hữu trí tuệ đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh;

c) Dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu được yêu cầu thẩm định nhanh trùng hoặc tương tự với dấu hiệu trong đơn đăng ký nhãn hiệu của người khác có ngày nộp đơn sớm hơn trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên mà đơn đó chưa được xử lý xong;

d) Người nộp đơn chủ động sửa đổi, bổ sung đơn hoặc tách đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu sau khi có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh.

5. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định mẫu đơn yêu cầu thẩm định nội dung nhanh và quy định chi tiết việc tiếp nhận, xử lý yêu cầu thẩm định nội dung nhanh đối với đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký nhãn hiệu.".

Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia. Ảnh: PV

Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia

Đề án hướng tới nâng cao năng lực tổng thể, xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh mạng tinh nhuệ, hiện đại, chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với mọi nguy cơ, thách thức trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng.

Trung tâm dữ liệu quy mô lớn, nền tảng cốt lõi của AI. Ảnh: Invidia

AI định hình lại tăng trưởng ngành công nghệ thông tin

Làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là xu hướng xa vời mà đang trực tiếp làm thay đổi cách ngành dịch vụ công nghệ thông tin vận hành. Một trong những thay đổi rõ nhất: Doanh thu không còn phụ thuộc chặt vào số lượng nhân sự như trước.

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng lực quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn vận hành sàn giao dịch thí điểm tài sản mã hóa.

Quản trị rủi ro trên sàn thí điểm tài sản mã hóa

Việt Nam đang hướng tới vận hành sàn giao dịch thí điểm tài sản mã hóa đầu tiên theo tinh thần của Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Ban Tổ chức trao giải Nhất cho đội Tri-force

Ươm mầm nhân lực công nghệ chất lượng cao từ P-Innovation 2026

Ngày 3/4, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông tổ chức Chung kết cuộc thi P-Innovation 2026, nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong môi trường đại học, gắn với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển sản phẩm công nghệ.

Nhân lực bán dẫn: Bài học từ Đức và khoảng trống của Việt Nam

Nhân lực bán dẫn: Bài học từ Đức và khoảng trống của Việt Nam

Trong bối cảnh ngành công nghiệp bán dẫn đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế số toàn cầu, câu chuyện nhân lực không còn là vấn đề riêng của các quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, nơi dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực bán dẫn đang tăng nhanh, bài toán nguồn nhân lực ngày càng trở nên cấp thiết.

Tự chủ công nghệ AUV nghiên cứu biển

Tự chủ công nghệ AUV nghiên cứu biển

Khoa học-công nghệ phát triển giúp nhiều quốc gia biển trên thế giới đẩy mạnh nghiên cứu về tiềm năng tài nguyên biển trong vùng lãnh hải của mình, từ đó có những quyết sách chính xác và hiệu quả. 

Giải pháp năng lượng xanh từ công nghệ phát điện nano ma sát

Giải pháp năng lượng xanh từ công nghệ phát điện nano ma sát

Từ những chuyển động rất nhỏ như bước chân, hơi thở hay nhịp tim, điện năng có thể được tạo ra. Công nghệ phát điện nano ma sát (TENGs) có thiết kế đơn giản, chi phí thấp và đạt hiệu quả cao đang mở ra một hướng đi mới cho năng lượng xanh, với nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống và công nghệ hiện đại.

Đào tạo an ninh mạng cho chuyển đổi số, bảo đảm an toàn thông tin

Đào tạo an ninh mạng cho chuyển đổi số, bảo đảm an toàn thông tin

Chương trình đào tạo “An ninh mạng cho chuyển đổi số” là hoạt động trong khuôn khổ “Thao trường An ninh mạng Việt Nam”. Đây là bước khởi đầu quan trọng, với mục tiêu trang bị tư duy quản trị rủi ro an ninh mạng trong chuyển đổi số toàn diện, gắn với thực tiễn triển khai hệ thống dữ liệu và nền tảng số.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh NGUYỄN ĐĂNG

Mở rộng cơ hội cho nhà khoa học trẻ

Để khoa học công nghệ phát triển đột phá, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của đất nước, không thể không quan tâm việc bồi dưỡng, khuyến khích các nhà khoa học trẻ. Giải quyết những điểm nghẽn, hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp là điều kiện cần thiết để thu hút người tài đến với khoa học.

Ông Trần Vân Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic khẳng định chip bán dẫn và AI là 'bệ phóng' sự nghiệp hàng đầu cho thế hệ trẻ tại Workshop "AI & Chip Bán dẫn - Nền tảng tương lai thông minh".

Nhân lực bán dẫn: Bài học từ Đức và khoảng trống của Việt Nam

Trong bối cảnh ngành công nghiệp bán dẫn đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế số toàn cầu, câu chuyện nhân lực không còn là vấn đề riêng của các quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, nơi dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực bán dẫn đang tăng nhanh, bài toán nguồn nhân lực ngày càng trở nên cấp thiết.

Mục tiêu đến năm 2030, nghiên cứu, làm chủ công nghệ thiết kế, tích hợp, chế tạo, thử nghiệm và đưa vào ứng dụng 6 sản phẩm công nghệ chiến lược. Ảnh minh họa

Tự chủ công nghệ AUV nghiên cứu biển

Khoa học-công nghệ phát triển giúp nhiều quốc gia biển trên thế giới đẩy mạnh nghiên cứu về tiềm năng tài nguyên biển trong vùng lãnh hải của mình, từ đó có những quyết sách chính xác và hiệu quả. Tầm quan trọng trong nghiên cứu, bảo tồn và khai thác tài nguyên biển đặt ra yêu cầu tự chủ và nội địa hóa các phương tiện nghiên cứu, phù hợp Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thực nghiệm vận hành máy phát điện nano ma sát.

Giải pháp năng lượng xanh từ công nghệ phát điện nano ma sát

Từ những chuyển động rất nhỏ như bước chân, hơi thở hay nhịp tim, điện năng có thể được tạo ra. Công nghệ phát điện nano ma sát (TENGs) có thiết kế đơn giản, chi phí thấp và đạt hiệu quả cao đang mở ra một hướng đi mới cho năng lượng xanh, với nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống và công nghệ hiện đại.

Tăng cường năng lực ứng phó an ninh, an toàn mạng cho đội ngũ nhân lực hiện nay là yêu cầu cấp thiết. Ảnh: PV

Đào tạo an ninh mạng cho chuyển đổi số, bảo đảm an toàn thông tin

Chương trình đào tạo “An ninh mạng cho chuyển đổi số” là hoạt động trong khuôn khổ “Thao trường An ninh mạng Việt Nam”. Đây là bước khởi đầu quan trọng, với mục tiêu trang bị tư duy quản trị rủi ro an ninh mạng trong chuyển đổi số toàn diện, gắn với thực tiễn triển khai hệ thống dữ liệu và nền tảng số.