Thời gian qua, hoạt động sơ chế, chế biến thủy sản trên địa bàn Quảng Ninh đã có những chuyển biến tích cực, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ và góp phần cải thiện thu nhập cho người dân ở khu vực ven biển. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra không ít khó khăn, nhất là về quy hoạch, quy mô sản xuất, công nghệ chế biến, vấn đề môi trường và liên kết chuỗi.
Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ninh đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Như Hạnh, Phó Giám đốc Sở NN&MT, nhằm làm rõ thực trạng, cũng như các giải pháp phát triển trong thời gian tới.
- Thời gian qua, Quảng Ninh đã ban hành và triển khai nhiều định hướng chiến lược nhằm thúc đẩy hoạt động sơ chế, chế biến thủy sản. Xin ông cho biết về những kết quả nổi bật của lĩnh vực này?
+ Những năm gần đây, hoạt động sơ chế, chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển khá rõ nét, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và ổn định kinh tế - xã hội. Tính đến 31/12/2025, toàn tỉnh có 277 cơ sở sơ chế, chế biến thuỷ sản, bao gồm 24 cơ sở xuất khẩu và 253 cơ sở tiêu thụ nội địa có quy mô, công suất nhỏ và siêu nhỏ.
Đáng chú ý, trình độ công nghệ chế biến đã được nâng lên, đạt mức “trung bình tiên tiến”. Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền hiện đại, như hệ thống băng tải tự động, công nghệ cấp đông nhanh IQF, áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế như HACCP, ISO 22000, IFS. Nhờ đó, các sản phẩm chủ lực của tỉnh như hàu, tôm, mực, nghêu từng bước khẳng định vị thế tại các thị trường Nhật Bản, châu Âu, Hàn Quốc. Từ năm 2021 đến tháng 4/2026, tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu của tỉnh đạt trên 337.000 tấn.
Song song với xuất khẩu, thị trường nội địa tiếp tục được mở rộng với nhiều sản phẩm chế biến sâu, gia tăng giá trị, như chả mực, ruốc hàu, nước mắm và các sản phẩm thực phẩm tiện lợi. Qua đó góp phần tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động nông thôn, thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Qua phản ánh của người dân, hoạt động sơ chế thủy sản nhỏ lẻ trong khu dân cư ở một số nơi còn phát sinh mùi, ảnh hưởng môi trường. Ông có thể cho biết rõ hơn về thực trạng và những khó khăn, vướng mắc của hoạt động sơ chế, chế biến thủy sản hiện nay?
+ Thực tế, lĩnh vực sơ chế, chế biến thuỷ sản trên địa bàn tỉnh vẫn đang tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế, cần được tập trung tháo gỡ. Trước hết, về năng lực chế biến, đa số các cơ sở hiện nay có quy mô nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ; hạ tầng còn yếu, trang thiết bị, công nghệ chậm được đổi mới. Vì vậy, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, sản phẩm chế biến sâu còn ít, chủ yếu vẫn là sơ chế, xuất thô, nên giá trị gia tăng thấp.
Vấn đề môi trường cũng là một áp lực lớn. Nhiều cơ sở sơ chế, chế biến nằm trong khu dân cư, sản xuất mang tính thủ công, nên việc kiểm soát nước thải, mùi hôi chưa tốt. Trong khi đó, chi phí đầu tư hệ thống xử lý môi trường khá lớn, vượt quá khả năng của nhiều hộ sản xuất nhỏ. Thực tế vẫn còn tình trạng một số cơ sở chưa được đầu tư đầy đủ công nghệ xử lý chất thải, chưa hoàn thiện các thủ tục về môi trường; ý thức chấp hành quy định ở một bộ phận người tại cơ sở chưa cao.
Bên cạnh đó, những bất cập trong quy hoạch và tổ chức sản xuất cũng đang là “điểm nghẽn”. Mặc dù tỉnh đã quy hoạch các khu, cụm công nghiệp phục vụ chế biến thủy sản, nhưng hạ tầng nhiều nơi chưa hoàn thiện, nên việc thu hút doanh nghiệp đầu tư, cũng như di dời các cơ sở nhỏ lẻ ra khỏi khu dân cư còn chậm.
Ngoài ra, cơ chế, chính sách phát triển ngành chế biến thủy sản chưa thực sự đồng bộ và đủ mạnh. Đây là lĩnh vực cần vốn lớn, rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài, nên chưa hấp dẫn được nhiều nhà đầu tư; một số chính sách về đất đai, tín dụng, KHCN… vẫn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.
- Trước những bất cập nói trên, Sở NN&MT sẽ triển khai những giải pháp trọng tâm nào để vừa phát triển sản xuất đối với hoạt động sơ chế, chế biến thủy sản, vừa bảo đảm môi trường và đời sống của người dân, thưa ông?
+ Quan điểm của tỉnh là phát triển hoạt động sơ chế, chế biến thủy sản theo hướng tập trung, hiện đại, gắn với bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người dân. Với chức năng được giao, Sở NN&MT sẽ tham mưu hoàn thiện hệ thống quy định, hướng dẫn về điều kiện sản xuất, kinh doanh đối với các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản; trong đó làm rõ những tiêu chí về môi trường, an toàn thực phẩm, nhất là đối với các cơ sở đang hoạt động trong khu dân cư, nhằm đưa hoạt động này dần đi vào nền nếp.
Cùng với đó, Sở sẽ phối hợp với các ngành, địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những vi phạm. Trước mắt, sẽ triển khai đợt cao điểm rà soát, chấn chỉnh trong toàn tỉnh, tập trung xử lý dứt điểm những tồn tại kéo dài, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ sở sản xuất và người dân.
Một giải pháp căn cơ là rà soát, hoàn thiện quy hoạch, bố trí quỹ đất phù hợp trong các khu, cụm công nghiệp để phát triển chế biến thủy sản gắn với vùng nguyên liệu; xây dựng lộ trình di dời các cơ sở nhỏ lẻ, không bảo đảm điều kiện ra khỏi khu dân cư. Song song với đó, tỉnh sẽ tập trung tháo gỡ khó khăn về hạ tầng, tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến thủy sản.
Sở sẽ tham mưu phát triển các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, quy mô lớn theo hướng công nghiệp, bền vững, nhằm chủ động nguồn nguyên liệu cho chế biến. Qua đó, từng bước hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất, đến chế biến và tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Xin cảm ơn ông!