Trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đang đối mặt với những thách thức an ninh phi truyền thống như: dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực..., công nghệ y - sinh học tiên tiến có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là với an ninh lương thực, y tế, nông nghiệp, môi trường.
Ở Việt Nam, y - sinh học tiên tiến được xác định là 1 trong 11 nhóm công nghệ chiến lược, có tính đột phá và lan tỏa, góp phần tăng cường năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia, thúc đẩy đất nước phát triển bền vững.
Tạo động lực tăng trưởng mới
Phát triển công nghệ y - sinh học đang trở thành xu thế của thế giới,là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống người dân.
Công nghệ y - sinh học được ứng dụng ngày càng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, bảo vệ môi trường, an ninh, quốc phòng với nhiều sản phẩm quan trọng có khả năng định hình tương lai trong việc chăm sóc sức khỏe như trí tuệ nhân tạo y tế, công nghệ gene, vật liệu nano, thiết bị cảm biến sinh học...
Chính vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ sinh học, góp phần tạo ra thị trường công nghệ sinh học toàn cầu ngày càng phát triển với giá trị ước tính khoảng 1,8 nghìn tỷ USD trong năm 2025, dự báo sẽ tăng trưởng gấp đôi vào năm 2030 nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chỉnh sửa gene, cũng như nhu cầu ngày càng tăng đối với các giải pháp tiên tiến trong y tế, nông nghiệp và công nghiệp.
Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 30-1-2023, của Bộ Chính trị “Về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới” đã đặt công nghệ sinh học vào nhóm ngành ưu tiên, góp phần cải thiện năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đồng thời đặt ra mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia hàng đầu châu Á về công nghệ sinh học.
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” tiếp tục khẳng định công nghệ sinh học là một trong những lĩnh vực chiến lược được ưu tiên đầu tư.
Quyết định số 1131/QĐ-TTg, ngày 12-6-2025, của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược” xác định nhóm công nghệ y - sinh học tiên tiến là 1 trong 11 nhóm công nghệ chiến lược với 3 nhóm sản phẩm: vaccine thế hệ mới; liệu pháp gene (chỉnh sửa gene) trong y tế và nông nghiệp; liệu pháp tế bào (tế bào gốc, tế bào miễn dịch).
Đây cũng là các sản phẩm “Make in Vietnam” có năng lực cạnh tranh, cũng như khả năng thay thế nhập khẩu, giàu tiềm năng xuất khẩu với quy mô thị trường đủ lớn, tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Thực hiện chủ trương trên, hệ sinh thái ngành y - sinh học ở Việt Nam ngày càng được chú trọng xây dựng với hơn 50 cơ sở đào tạo liên quan công nghệ sinh học, mỗi năm cung cấp khoảng 3.000 - 4.000 sinh viên tốt nghiệp; hàng trăm viện nghiên cứu và hơn 300 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sinh học, công nghệ sinh học, khoa học sự sống như công nghiệp, nông nghiệp, y sinh, môi trường, thực phẩm...; ngày càng thúc đẩy hoạt động đào tạo, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành tựu của công nghệ y - sinh học tiên tiến trong đời sống và sản xuất.
Các viện nghiên cứu và trường đại học lớn từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, tiếp cận, làm chủ một số công nghệ hiện đại, xây dựng các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế.
Hoạt động nghiên cứu công nghệ sinh học tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi: y tế và sức khỏe (tập trung vào y học tái tạo (tế bào gốc, exosome), vaccine thế hệ mới và y học chính xác); nông nghiệp và sản phẩm xanh (phát triển giống cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu và chế phẩm sinh học bền vững); môi trường và phát triển bền vững (tập trung vào công nghệ Net Zero, kinh tế tuần hoàn và xử lý môi trường bằng vi sinh bản địa); tin sinh học và AI (tập trung xây dựng hạ tầng dữ liệu gene và ứng dụng AI trong thiết kế thuốc, vaccine).
Kết quả nghiên cứu được chuyển giao vào thực tiễn sản xuất ngày càng nhiều, tạo ra nhiều giống cây trồng và vật nuôi có năng suất cao, chế phẩm vi sinh phục vụ nông nghiệp sạch, sinh phẩm chẩn đoán, vaccine sản xuất trong nước hỗ trợ khả năng chủ động ứng phó với dịch bệnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Khuyến khích, tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp khoa học, công nghệ trong lĩnh vực công nghệ sinh học đưa các sản phẩm công nghệ y - sinh học tiên tiến ra thị trường.
Có thể thấy, trong bối cảnh nhiều thách thức như già hóa dân số, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường cùng nhiều dịch bệnh diễn biến phức tạp, công nghệ y - sinh học tiên tiến đã và đang góp phần tạo động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.
Trong bối cảnh nhiều thách thức, công nghệ y - sinh học tiên tiến đóng góp, tạo động lực tăng trưởng mới, hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam_Ảnh minh họa
Định hướng tương lai
Bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh vực công nghệ sinh học ở Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước trong khu vực và trên thế giới; quy mô thị trường công nghệ sinh học còn nhỏ (chỉ đạt khoảng 1,5 tỷ USD, chiếm chưa đến 0,1% thị trường thế giới). Số lượng và chất lượng các sản phẩm công nghệ y - sinh học tiên tiến chưa tương xứng với tiềm năng.
Sự liên kết giữa “ba nhà” (viện - trường - doanh nghiệp) chưa hiệu quả. Việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại còn hạn chế; nhiều kết quả nghiên cứu mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, còn ít liên kết với doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học, chưa đáp ứng đủ nhu cầu, nhất là ở các mảng thiết kế và vận hành dây chuyền sản xuất sinh phẩm quy mô công nghiệp, phân tích dữ liệu sinh học, nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại doanh nghiệp, quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế; từ đó gây khó khăn trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược trong lĩnh vực này.
Năng lực nghiên cứu giữa các cơ sở còn chênh lệch, trang thiết bị còn hạn chế. Hoạt động hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ chưa được đẩy mạnh và chưa thực sự hiệu quả.
Thời gian tới, để thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam đến năm 2030 trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển, nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, trước tiên cần tháo gỡ điểm nghẽn bằng cơ chế sandbox (khung pháp lý thử nghiệm) với giải pháp như: rút gọn quy trình thẩm định, cấp phép thử nghiệm lâm sàng cho sản phẩm nghiên cứu trọng điểm; xây dựng cơ chế thí điểm cho thương mại hóa sản phẩm khoa học, công nghệ trong trường đại học; đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn và trung tâm kiểm định quốc gia.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù, tạo môi trường thuận lợi cho công nghệ sinh học; thúc đẩy nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, tạo nền tảng phát triển công nghệ chiến lược; thu hút hiệu quả doanh nghiệp, nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước trong phát triển các sản phẩm y - sinh học tiên tiến phục vụ sản xuất và đời sống.
Thiết kế chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm “Make in Vietnam” trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như danh mục được xác định tại Quyết định số 1131/QĐ-TTg, tổ chức thị trường đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn.
Mô hình hợp tác “ba nhà” cần thực chất hơn, trong đó Nhà nước đóng vai trò “kiến tạo”, tạo nền tảng để viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp kết nối, hình thành chuỗi giá trị trong ngành sinh học, kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và chăm lo sức khỏe cộng đồng.
Doanh nghiệp không chỉ đặt hàng mà còn là nhà đầu tư chiến lược, đồng hành từ khâu nghiên cứu, phát triển đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu thành các sản phẩm trên thị trường, đáp ứng yêu cầu của đời sống và sản xuất.
Do vậy, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ sinh học nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ mới, đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị nhằm sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược đạt trình độ quốc tế.
Xây dựng nguồn nhân lực công nghệ sinh học có năng lực chuyên sâu, liên ngành, đổi mới sáng tạo và khả năng hội nhập quốc tế. Xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành; hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu có uy tín đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học.
Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm học hỏi và tiếp nhận các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực y - sinh học, mở rộng năng lực nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng công nghệ; qua đó thúc đẩy việc tạo ra những sản phẩm công nghệ chiến lược, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng GDP và sự phát triển bền vững của đất nước./.