Nhân lực bán dẫn: Bài học từ Đức và khoảng trống của Việt Nam

Trong bối cảnh ngành công nghiệp bán dẫn đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế số toàn cầu, câu chuyện nhân lực không còn là vấn đề riêng của các quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, nơi dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực bán dẫn đang tăng nhanh, bài toán nguồn nhân lực ngày càng trở nên cấp thiết.

Ông Trần Vân Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic khẳng định chip bán dẫn và AI là 'bệ phóng' sự nghiệp hàng đầu cho thế hệ trẻ tại Workshop "AI & Chip Bán dẫn - Nền tảng tương lai thông minh".
Ông Trần Vân Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic khẳng định chip bán dẫn và AI là 'bệ phóng' sự nghiệp hàng đầu cho thế hệ trẻ tại Workshop "AI & Chip Bán dẫn - Nền tảng tương lai thông minh".

Tại Việt Nam, ngành công nghiệp bán dẫn đang đứng trước một cơ hội phát triển mạnh mẽ. Hơn 170 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực điện tử và bán dẫn đã được triển khai, với tổng vốn đăng ký gần 11,6 tỷ USD. Sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Intel, Amkor hay Hana Micron cùng với sự tham gia của các doanh nghiệp trong nước như Viettel, FPT đang tạo nên một nền tảng quan trọng cho ngành công nghiệp mới này.

Theo ông Trần Vân Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic, Tập đoàn FPT, phần lớn lực lượng tham gia vận hành, kiểm thử và đóng gói chip tại bang Saxony không xuất phát từ các trường đại học, mà được đào tạo thông qua hệ thống giáo dục nghề nghiệp gắn chặt với doanh nghiệp. Đây chính là nền tảng giúp khu vực này hình thành một hệ sinh thái nhân lực vững chắc, đáp ứng yêu cầu của cụm công nghiệp bán dẫn lớn nhất châu Âu.

Tuy nhiên, cùng với cơ hội là áp lực rất lớn về nhân lực. Theo các báo cáo tổng hợp từ Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển công nghiệp bán dẫn và các cơ quan nghiên cứu thị trường lao động, hiện Việt Nam mới có khoảng 15.000 lao động trong lĩnh vực này, trong đó khoảng 10.000 người tham gia trực tiếp vào các công đoạn sản xuất, kiểm thử và đóng gói. Con số này mới chỉ đáp ứng khoảng 20 phần trăm nhu cầu thực tế của ngành. Khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng cung ứng nhân lực vì thế đang ngày càng rõ rệt.

Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực bán dẫn trên thế giới

Quan sát từ bang Saxony cho thấy, thành công của ngành bán dẫn tại Đức không chỉ đến từ công nghệ hay quy mô đầu tư, mà trước hết nằm ở cấu trúc đào tạo nhân lực. Đây là khu vực được xem là “thủ phủ bán dẫn” của châu Âu, với hơn 3.600 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vi điện tử và công nghệ cao, tạo việc làm cho khoảng 76.000 đến hơn 80.000 lao động và đóng góp gần một phần ba sản lượng chip của toàn châu lục.

Theo ông Trần Vân Nam, qua trao đổi với các trung tâm đào tạo và viện nghiên cứu tại Dresden, hạt nhân của cụm công nghiệp Silicon Saxony, điểm cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh của khu vực này chính là mô hình đào tạo gắn trực tiếp với doanh nghiệp. Thay vì học xong mới tìm việc, người học được đào tạo ngay trong môi trường sản xuất thực tế. Khoảng 70% thời lượng đào tạo diễn ra tại doanh nghiệp.

Điểm khác biệt lớn của mô hình này là quy trình tuyển dụng và đào tạo được thực hiện đồng thời. Doanh nghiệp chủ động tuyển người từ sớm, trực tiếp chi trả chi phí đào tạo và chịu trách nhiệm toàn bộ phần thực hành. Các tập đoàn lớn thường tổ chức khu vực đào tạo ngay tại dây chuyền sản xuất với hệ thống máy móc thực tế, trong khi các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn liên kết với các trung tâm đào tạo đặt trong khu công nghiệp.

Dù học tại trường nghề hay trung tâm đào tạo của doanh nghiệp, người học vẫn phải đáp ứng chuẩn đầu ra chung của nước Đức và vượt qua các kỳ đánh giá năng lực trước khi chính thức bước vào thị trường lao động. Cách tiếp cận này giúp hình thành một lực lượng kỹ thuật viên có trình độ cao, đáp ứng ngay yêu cầu công việc khi tốt nghiệp.

Theo quan sát thực tế, tại các trung tâm sản xuất chip ở Đức, khoảng 70% lực lượng lao động trực tiếp trong các khâu vận hành, kiểm thử và đóng gói đến từ hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành bán dẫn không chỉ phụ thuộc vào đội ngũ nghiên cứu hay thiết kế, mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của lực lượng kỹ thuật viên, những người trực tiếp vận hành công nghệ trong nhà máy.

Phát triển nguồn nhân lực bán dẫn tại Việt Nam

Từ kinh nghiệm quốc tế, có thể thấy bài toán nhân lực bán dẫn của Việt Nam không chỉ nằm ở quy mô đào tạo, mà còn ở cách tổ chức hệ thống đào tạo. Việt Nam đặt mục tiêu có 50.000 nhân sự bán dẫn vào năm 2030. Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung vào số lượng mà chưa giải quyết được vấn đề chất lượng và cơ cấu nhân lực, mục tiêu này sẽ rất khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Theo GS.Usagawa Tsuyoshi, chuyên gia đào tạo bán dẫn tại Nhật Bản, thách thức lớn của Việt Nam hiện nay là người học chưa có nhiều cơ hội thực hành và tiếp cận môi trường sản xuất thực tế. Trong khi đó, đặc thù của ngành bán dẫn là thay đổi rất nhanh, đòi hỏi người học phải có năng lực thích ứng và học tập liên tục sau khi tốt nghiệp.

Ở góc nhìn trong nước, nhiều chuyên gia cũng cho rằng vấn đề cốt lõi không phải là đào tạo đủ người, mà là đào tạo đúng người. Ngành bán dẫn đòi hỏi một lực lượng lao động đa dạng, trải dài trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ thiết kế, sản xuất đến kiểm thử và đóng gói. Nếu hệ thống đào tạo vẫn thiên về lý thuyết và chưa gắn với thực tiễn sản xuất, khoảng cách giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ tiếp tục tồn tại.

Giáo dục nghề nghiệp cần trở thành trụ cột then chốt

Thực tế cho thấy một số cơ sở đào tạo trong nước đã bắt đầu thay đổi theo hướng gắn đào tạo với doanh nghiệp. Trong đó, Trường Cao đẳng FPT Polytechnic tham gia thành lập Liên minh Phát triển Nguồn lực Công nghiệp Bán dẫn Việt Nam, từng bước tăng cường kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp. Lợi thế từ hệ sinh thái doanh nghiệp của Tập đoàn FPT cũng mở ra thêm cơ hội thực hành và tiếp cận môi trường sản xuất cho sinh viên.

622383289-1320710600090904-1806978510900440712-n.jpg
Đào tạo gắn liền với hệ sinh thái sản xuất: Sinh viên FPT Polytechnic được tiếp cận công nghệ đóng gói chip ngay tại doanh nghiệp.

Theo ông Vũ Chí Thành, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng FPT Polytechnic, sự xuất hiện của các nhà máy bán dẫn tại Việt Nam buộc các cơ sở đào tạo phải thay đổi cách tiếp cận. Trước đây, nhiều chương trình kỹ thuật vẫn thiên về lý thuyết. Nhưng với ngành bán dẫn, phần lớn chương trình đào tạo phải được xây dựng theo hướng thực hành. Sinh viên không chỉ học kiến thức nền tảng, mà còn được tiếp cận phần mềm thiết kế vi mạch, thực hành trong phòng thí nghiệm mô phỏng và tham gia thực tập tại doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, việc phát triển đội ngũ kỹ thuật viên và gắn đào tạo với hệ sinh thái sản xuất sẽ là điều kiện quyết định để Việt Nam hình thành một ngành công nghiệp bán dẫn bền vững. Giáo dục nghề nghiệp vì thế cần được xác định là một trụ cột trong chiến lược phát triển nhân lực bán dẫn, thay vì chỉ đóng vai trò bổ trợ như trước đây.

Bài học từ Đức cho thấy, muốn xây dựng một ngành công nghiệp công nghệ cao, trước hết phải xây dựng được một nền tảng nhân lực vững chắc. Với Việt Nam, đây không chỉ là yêu cầu trước mắt, mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh trong tương lai.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh NGUYỄN ĐĂNG

Mở rộng cơ hội cho nhà khoa học trẻ

Để khoa học công nghệ phát triển đột phá, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của đất nước, không thể không quan tâm việc bồi dưỡng, khuyến khích các nhà khoa học trẻ. Giải quyết những điểm nghẽn, hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp là điều kiện cần thiết để thu hút người tài đến với khoa học.

Mục tiêu đến năm 2030, nghiên cứu, làm chủ công nghệ thiết kế, tích hợp, chế tạo, thử nghiệm và đưa vào ứng dụng 6 sản phẩm công nghệ chiến lược. Ảnh minh họa

Tự chủ công nghệ AUV nghiên cứu biển

Khoa học-công nghệ phát triển giúp nhiều quốc gia biển trên thế giới đẩy mạnh nghiên cứu về tiềm năng tài nguyên biển trong vùng lãnh hải của mình, từ đó có những quyết sách chính xác và hiệu quả. Tầm quan trọng trong nghiên cứu, bảo tồn và khai thác tài nguyên biển đặt ra yêu cầu tự chủ và nội địa hóa các phương tiện nghiên cứu, phù hợp Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thực nghiệm vận hành máy phát điện nano ma sát.

Giải pháp năng lượng xanh từ công nghệ phát điện nano ma sát

Từ những chuyển động rất nhỏ như bước chân, hơi thở hay nhịp tim, điện năng có thể được tạo ra. Công nghệ phát điện nano ma sát (TENGs) có thiết kế đơn giản, chi phí thấp và đạt hiệu quả cao đang mở ra một hướng đi mới cho năng lượng xanh, với nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống và công nghệ hiện đại.

Tăng cường năng lực ứng phó an ninh, an toàn mạng cho đội ngũ nhân lực hiện nay là yêu cầu cấp thiết. Ảnh: PV

Đào tạo an ninh mạng cho chuyển đổi số, bảo đảm an toàn thông tin

Chương trình đào tạo “An ninh mạng cho chuyển đổi số” là hoạt động trong khuôn khổ “Thao trường An ninh mạng Việt Nam”. Đây là bước khởi đầu quan trọng, với mục tiêu trang bị tư duy quản trị rủi ro an ninh mạng trong chuyển đổi số toàn diện, gắn với thực tiễn triển khai hệ thống dữ liệu và nền tảng số.

Các sản phẩm chip bán dẫn được trưng bày tại triển lãm thiết bị điện tử thông minh. Ảnh: NAM ANH

Phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là nghiên cứu nhiều hơn mà còn phải tạo ra các sản phẩm công nghệ có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.

Phát triển mạng lưới các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân

Phát triển mạng lưới các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân

Đó là một trong những nội dung của Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược) vừa được Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng phê duyệt tại Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 16/3/2026.

Chính sách phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử

Chính sách phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử

Chính phủ ban hành Nghị định số 331/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Năng lượng nguyên tử về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Trong đó, Nghị định nêu rõ một số chính sách đầu tư, phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực năng lượng nguyên tử.